PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NÔNG NGHIỆP SINH THÁI

Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, biến đổi toàn cầu đang khuynh loát và tác động trực tiếp đến tất cả mọi giống loài cư ngụ trên Trái Đất – ngôi nhà chung của tất cả chúng ta. Chiến tranh, đại dịch, biến đổi khí hậu… đang gây nên những hậu quả khôn lường với một tốc độ và cường độ khủng khiếp. Các vấn nạn đó thay đổi liên tục và rất khó dự đoán nên sự ứng phó của chúng ta với biến đổi toàn cầu là một bài toán không hề đơn giản. Tuy nhiên, nếu nhìn lại thật kỹ những nguyên nhân gây ra các thảm họa như vậy thì chúng ta hoàn toàn có thể tìm thấy giải pháp ngay ở đó. Chúng tôi cho rằng gần như tất cả các hiện tượng cực đoan xảy ra gần đây như là một hệ quả tất yếu bởi sự ngược đãi của con người đối với tự nhiên dưới nhiều hình thức khác nhau; do đó, giải pháp chính yếu nhất để ngăn ngừa, thích ứng và giảm nhẹ những tác động nguy hại do biến đổi toàn cầu gây ra nằm chính ngay ở yếu tố con người. Khi tư duy của con người được phát triển đúng hướng thì các giải pháp sẽ dần thành hình và hiển lộ.

Chúng ta hãy cũng ngẫm lại về tất cả các sản phẩm do con người làm ra, cái gọi là sản phẩm nhân tạo để thấy được rằng, đó đều là các sao chép từ thế giới tự nhiên nhưng thực sự có rất nhiều các sản phẩm chỉ là sự “sao chép lỗi” vì chỉ để phục vụ cho nhu cầu quá mức hay chính xác là để thỏa mãn cái lòng tham của con người. Chính vì thế, quay về với tự nhiên để làm gốc, kết hợp với việc ứng dụng tri thức thời đại để làm tăng hiệu quả và quy mô sẽ đảm bảo cho một sự phát triển bền vững đáp ứng được cho nhu cầu biết đủ ở hiện tại và duy trì được sự ổn định, công bằng cho thế hệ tương lai.

Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ là một hướng đi như vậy bởi vì nông nghiệp chính là cái gốc của mọi hình thái kinh tế khác vì nó cần phải đảm bảo cho nhu cầu có thể nói là cao nhất của con người đó là nhu cầu ăn uống để duy trì sự sống. Và trong các loại hình nông nghiệp mà chúng ta có thể tiếp cận được hiện nay thì ở Việt Nam, giải pháp nông nghiệp sinh thái theo đánh giá của chúng tôi sẽ là một giải pháp hữu ích, thiết thực và khả thi để thực hiện một nền nông nghiệp bền vững.

Nguồn hình: https://www.worldagroforestry.org/

 

Luận giải vấn đề

Nền nông nghiệp đã có từ lâu đời, còn công nghiệp, dịch vụ, thương mại… thì chỉ mới xuất hiện sau này mà thôi. Từ thuở khai thiên lập địa, khi xuất hiện loài người thì theo đó nền nông nghiệp cũng xuất hiện với hình thức sơ khai nhất là săn bắt, hái lượm. Ở thời điểm đó, tất cả mọi thứ đã có sẵn đủ để phục vụ cho nhu cầu của con người, cái mà người ta nói ví von đó là do tạo hóa ban tặng. Sự cân bằng trong hệ sinh thái với vị trí của con người đơn giản chỉ là như một mắt xích trong đó, là một cấu phần trong chuỗi thức ăn mà thôi. Nhưng quả thật, ở thời điểm hiện tại thì con người đã đi quá xa rất nhiều so với cột mốc lý tưởng như vậy dưới góc nhìn của sự phát triển bền vững. Khi đã đi quá xa thì chúng ta không thể về ngay lại được vị trí ban đầu mà cần từng bước từng bước để quay lại. Với sự phát triển dân số cùng việc đô thị hóa nhanh chóng như hiện nay thì quả thực là rất khó cho nền nông nghiệp.

Việt Nam chúng ta là đất nước có truyền thống lâu đời về nông nghiệp, chúng ta cũng đi lên từ nông nghiệp, đó là lợi thế và cũng là thế mạnh của Việt Nam. Ở những thời điểm ban đầu, khi mà nền công nghiệp hóa chất và sự cơ giới hóa quá mức chưa len lỏi vào thì nền nông nghiệp lúc đó rõ ràng là một nền nông nghiệp sinh thái bền vững. Việc phát triển nông nghiệp sinh thái lúc đó là hoàn toàn tự nhiên, và chắc rằng lúc đó khái niệm nông nghiệp sinh thái cũng chưa có vì nền nông nghiệp lúc đó hiển nhiên là như vậy.

Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao phải chuyển đổi sang nền nông nghiệp bền vững và tại sao nên lựa chọn nông nghiệp sinh thái?

Với sự thay đổi sang nền nông nghiệp bền vững thì như đã phân tích ở trên chúng ta đã dễ dàng nhận ra. Tuy nhiên cần nói thêm về thực trạng tại Việt Nam để có thể thấy rằng việc chuyển đổi là cấp bách để duy trì một môi trường sống lành mạnh, một môi trường tự nhiên trong sạch đồng thời đảm bảo an ninh lương thực và sinh kế bền vững cho bà con nông dân. Ở Việt Nam ta, do chạy theo một nền kinh tế thị trường với mấu chốt là gia tăng lợi nhuận trước mắt bằng mọi giá nên cuộc đua phát triển nông nghiệp đề cao sản lượng bất chấp việc tàn phá đất, tàn phá môi trường, phá hủy các hệ sinh thái tự nhiên… trong vài thập kỷ gần đây xảy ra rất rầm rộ. Hơn nữa việc các hóa chất như thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc “vỗ béo nông sản”… được phổ biến dễ dàng trên thị trường, cùng với đó là sự dẫn dắt truyền thông của một số tập đoàn đa quốc gia đã làm cho bà con nông dân tiêu thụ một lượng lớn các hóa chất độc hại này và gây ra việc ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng. Đồng thời nền kinh tế nói chung bị sự thương mại hóa toàn cầu chi phối nên việc bỏ đi phương thức trồng xen canh vốn có từ lâu đời để chỉ trồng độc canh một loại cây trồng đã làm thiệt đơn thiệt kép. Có những thời điểm việc làm nông nghiệp của bà con bị chi phối hoàn toàn bởi các thương lái trong và ngoài nước gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường và tạo nên rất nhiều các cuộc giải cứu nông sản đau lòng và đưa đến rất nhiều hệ lụy. Nếu xét trong một khoảng thời gian lâu dài thì quả thực đây là một vấn đề rất lớn không những cho nền nông nghiệp Việt Nam mà còn là hiểm họa cho toàn bộ môi trường sống của chúng ta.  

Tất cả những điều đó gần như là trái ngược với phương thức sản xuất nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sinh thái ở về thái cực bên kia so với các phương thức sản xuất nông nghiệp hiện hữu như vừa nói ở trên. Đó là lý do giải thích vì sao lựa chọn nông nghiệp sinh thái để hướng tới một nền nông nghiệp bền vững là một lựa chọn đúng đắn cho Việt Nam. Nông nghiệp sinh thái là một hình thái nông nghiệp đa chức năng chứ không chỉ đơn thuần là sản xuất lương thực, thực phẩm và tạo sinh kế cho nông dân. Các đặc trưng rõ rệt của nông nghiệp sinh thái đã cho chúng ta thấy được tính bền vững rất cao của mô hình này. Mười yếu tố cấu thành nên nông nghiệp sinh thái bao gồm tính đa dạng, tính cộng hưởng, tính hiệu quả, tính tái tạo, khả năng chống chịu, văn hóa và ẩm thực, đồng sáng tạo và chia sẻ tri thức, giá trị xã hội và nhân văn, kinh tế tuần hoàn, quản trị có trách nhiệm [1] đã bao phủ hoàn toàn các yêu cầu của nông nghiệp bền vững, chính vì vậy, có thể khẳng định rằng nông nghiệp sinh thái là mô hình có tính bền vững cao nhất trong các loại hình nông nghiệp bền vững.

Nguồn hình: gupap.org

 

Mục tiêu chính của nông nghiệp sinh thái là phục hồi và tăng cường chất lượng dịch vụ sinh thái nhằm cải thiện hiệu quả sản xuất và duy trì hoặc tăng năng suất cây trồng (so với nông nghiệp thâm canh hóa học); cải thiện môi trường sống và chất lượng nông sản giúp tăng phúc lợi cho người nông dân và năng lực cạnh tranh quốc gia. [2]

Với tình hình biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường như hiện nay, nông nghiệp sinh thái còn góp phần quan trọng trong việc giảm nhẹ các tác động môi trường như việc hấp thụ CO2, tái tuần hoàn chất thải từ sinh hoạt, chăn nuôi hay từ các nhà máy chế biến khác như nhà máy chế biến thủy sản, lương thực…

Theo đánh giá của PGS.TS Đào Thế Anh – Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), Phó Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam (PHANO), nông nghiệp phát triển dựa trên các nguyên lý và tư duy sinh thái sẽ chuyển đổi hệ thống nông nghiệp đơn canh/thâm canh cao hiện nay sang hệ thống đa dạng sinh học và tăng tính kết nối/tuần hoàn giữa các hợp phần của hệ thống – giúp tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, đa dạng hóa sản phẩm – góp phần tăng hiệu quả sản xuất, ATTP, thích ứng cao hơn với BĐKH và rủi ro thị trường. [5]

Những lợi thế và ưu điểm rất rõ ràng của nông nghiệp sinh thái về chất lượng nông sản cũng như các tác động môi trường là như vậy, nhưng điều đó không có nghĩa là phải đánh đổi bằng năng suất và sản lượng. Nghĩa là năng suất và sản lượng của mô hình nông nghiệp sinh thái vẫn được gia tăng so với nền nông nghiệp thâm canh hóa học, do đó giá trị kinh tế cũng sẽ được cải thiện đáng kể. Điều này đã được chứng minh ở nhiều nước khắp nơi trên thế giới, cụ thể như:

  • Tôm nuôi theo cách quảng canh của Ecuador đạt sản lượng/(đơn vị diện tích/năm) cao gấp 4 lần so với tôm nuôi thâm canh của Việt Nam (VGP, 2017).
  • Lúa sản xuất theo hình thức SRT (Ấn Độ) đạt năng suất cao hơn 50-300% so với cách thức sản xuất thâm canh hóa học (Bhadsavle, 2018).
  • Hàng loạt các ví dụ khác về kết quả cắt giảm sử dụng thuốc BVTV đều cho năng suất cây trồng tăng lên. Ví dụ, nông dân trồng cải bắp ở Indonesia áp dụng thành công IPM đã cắt giảm lượng thuốc sâu sử dụng tới 80%, thuốc trừ nấm 90% trong khi năng suất cải bắp tăng 7.6%. Các kết quả tương tự cũng thấy ở các cây rau khác như cà chua, đậu đũa và hành (Untung 1998). Ở Cu Ba, sau sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết, những người nông dân sản xuất rau trở thành những nhà “sinh thái bắt buộc” vì không thể tiếp cận được với nguồn thuốc BVTV từ Liên Xô, 4 năm sau đó, họ đã trở thành những nhà “sinh thái tự nguyện” (Dinham 2003). Nông dân các nước khác như Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan và Guatemala cũng đã cắt giảm lượng thuốc BVTV tới 33 – 37% trong khi năng suất cây trồng nhìn chung vẫn được duy trì ổn định (Edland 1997, Pettersson 1997, Pimentel 1997 trích trong Wilson và Tisdell 2001). [2]

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, với truyền thống từ lâu đời cùng một kho tàng kinh nghiệm rộng lớn mà người xưa để lại thì nông nghiệp sinh thái quả thật là một ưu thế không hề nhỏ để Việt Nam khôi phục lại một nền nông nghiệp thuận theo tự nhiên, phát huy tối đa nguồn tri thức bản địa phong phú vốn đã bị ngủ quên. Đơn giản và gần gũi nhất đối với chúng ta là mô hình VAC theo hướng tuần hoàn kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi cả trên cạn và dưới nước mà ông cha ta đã áp dụng từ lâu và đã chứng minh được sự hiệu quả rõ ràng.

Nông nghiệp sinh thái càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh diện tích đất canh tác bình quân đầu người tiếp tục giảm xuống còn một phần ba vào năm 2050 so với năm 1950. Nhất là đối với Việt Nam, trong các điều kiện tự nhiên để phát triển nông nghiệp, Việt Nam tương đối dồi dào về tài nguyên nước nhưng lại khan hiếm về đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp bình quân/đầu người ở Việt Nam là 0,12ha, chỉ bằng 1/6 mức trung bình của thế giới [5]. Điều đó có nghĩa là, nếu nông nghiệp muốn đạt mức tăng trưởng cao hơn thì các giải pháp phải được thực hiện thông qua việc tăng năng suất dựa trên các nguyên lý sinh thái. [6]

Sống Tỉnh Thức

 

Tài liệu tham khảo

  1. Đào Thế Anh (2022), Hệ thống bài giảng Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn bền vững, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
  2. Phùng Thế Anh (2020), Phát triển Nông nghiệp bền vững – Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ – Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.
  3. Phạm Văn Hội (2022), Nông nghiệp sinh thái: Hiệu quả & lựa chọn cho Nông nghiệp Việt Nam, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
  4. Trương Quang Học (2022), Bài giảng: Phát triển bền vững toàn cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  5. Đào Thế Anh (2022), Tổng quan về phát triển nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam.
  6. OECD (2015), Báo cáo rà soát nông nghiệp và lương thực của OECD với chủ đề: Chính sách nông nghiệp Việt Nam.
  7. Đào Thanh Trường, Philip Degenhardt (2021), Sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam – Từ cách tiếp cận chuyển đổi sinh thái – xã hội: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách, Nhà xuất bản Lao động.

Để lại một bình luận